From Vuio, 1 Year ago, written in Plain Text.
Embed
  1. Trước Cách mạng tháng Tám, số phận người nông dân là mối quan tâm hàng đầu của dòng văn học hiện thực phê phán. Ngô Tất Tố có Tắt đèn với chị Dậu, Nguyễn Công Hoan có Bước đường cùng với anh Pha,… Và đặc biệt là Nam Cao với hàng loạt tác phấm xuất sắc về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Trong đó nối lên hình tượng Chí Phèo trong tác phấm cùng tên. Hình tượng nhân vật này đã đế lại trong lòng người đọc nhiều cảm nhận sâu sắc.
  2. Chí Phèo là ai? Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã giới thiệu nhân vật của mình một cách độc đáo. Nhà văn đế Chí Phèo hiện lên trong bộ dạng của một kẻ say rượu: “Hắn vừa đi vừa chửi”. Mà hắn chửi mới lạ lùng và ngoa ngoắt làm sao: “Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cả những ai không chửi nhau với hắn”. Không lạ sao được bởi khi chửi người ta thường phải hướng tới một đối tượng cụ thể đằng này hắn hướng tới tất cả cuộc đời này, trời đất này. Lạ lùng hon nữa, đây không phải là lần đầu tiên hắn chửi bỏi “Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi”. Vì sao hắn lại đến nông nỗi ấy? Nhân vật của Nam Cao vừa mới xuất hiện đã trở thành một ấn số khiến người đọc tò mò đoán định: con người ấy không tạo được chút cảm tính nào, song lại gieo vào lòng người một niềm xót xa – hắn anh ta phải có nỗi niềm khố đau nào đó mới đến nỗi dùng rượu đế hủy hoại thân xác, những tiếng chửi đời ngoa ngoắt kia cũng nói lên một điều rằng chủ nhân của nó đã bị mất hết niềm tin vào cuộc đời, vào con người trên thế gian này. Người đọc tò mò đọc tiếp trang truyện và quả thực, cuộc đời Chí Phèo hiện lên như một cuốn phim bi thảm.
  3. Chí vốn là đứa trẻ bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn, sự ra đời của hắn không được ai mong đợi. Nói trắng ra, hắn là một đứa con hoang, cha hắn không thừa nhận, mẹ hắn bỏ lại hắn ở cái lò gạch hoang mặc cho sống chết. Vậy là chỉ có cái lò gạch hoang là đón đợi hắn mà thôi. Khi Chí xám ngắt trong chiếc váy đụp thì những người nông dân nghèo khố đã nhặt hắn. Ban đầu là một anh đi thả ống lươn. Sau đó là một bà góa mù rồi bác phó cối. Khi bác phó cối chết, Chí Phèo thành đứa trẻ bơ vơ muốn có miếng ăn Chí phải đi hết nhà này đến nhà khác, nghèo khố và bẽ bàng. Đời hắn bọt bèo, lênh đênh, tội nghiệp chẳng khác chi một thử cỏ dại trôi dạt hết góc này đến xó nọ. Âu đó cũng là tình cảnh chung của số phận người nông dân trước cách mạng, đời họ cũng dập dềnh theo những phen phiêu tán li gia. Kẻ đi ở đợ, người buôn thúng bán mẹt nay đây mai đó, cực nhục hon phải tha hương cầu thực ở xứ người.
  4. Đen năm mười tám đôi mươi, số phận đưa đấy Chí tới gia đình lí Kiến. Đen cửa nhà giàu tưởng kiếm được bát cơm manh áo ai ngờ lại gặp địa ngục trần gian. Bởi cái con vợ ba “quỉ cái” của lí Kiến cứ bắt hắn bóp chân khêu gợi những chuyện dâm dạt. Hắn vùng vằng: tuy còn trẻ nhưng hắn cũng phân biệt được đâu là tình yêu chân chính đâu là thói dâm dục xấu xa. Sự cám dỗ đó không làm bản chất của Chí bị bôi nhọ. Chí thực sự là chàng trai tự trọng, lương thiện. Suy cho cùng đó là bản chất tốt đẹp của người nông dân xưa, chất phác, thật thà và đầy tự trọng. Đọc đến đây, người đọc khó có thế quên hình ảnh chị Dậu của Ngô Tất Tố cầm nắm giấy bạc ném vào mặt tên quan bỉ ổi, đê tiện. Hay gần gũi hơn là một nhân vật của chính Nam Cao, lão Hạc, lòng tự trọng đã khiến lão từ chối “gần như là hách dịch” mọi sự giúp đỡ của mọi người, và cuối cùng lão đã dùng cái chết để bảo toàn lòng tự trọng cao quý nơi con người mình.
  5. Ớ Chí Phèo, bản chất lương thiện ấy bị cái xã hội tăm tối ra sức hủy diệt. Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho tên cường hào lí Kiến bắt giam Chí, biến hắn từ một người lương thiện thành con quỉ dữ.
  6. Sau bảy, tám năm ở tù về Chí trở thành một con quỉ dữ đáng sợ “cái đầu thì trọc lốc”, "răng cạo trắng hớn", “trông gớm chết”. Trên người hắn xăm đầy những hình thù quái dị – bản chất của hắn năm xưa đã biến mất. Bây giờ hắn là một kẻ ác chỉ biết làm việc ác. Nhà văn đã dùng đến hai lần từ “gớm
  7. Loading...
  8.  Trang chủ (https://baigiaihay.com) Toán học (https://baigiaihay.com/toan-hoc) Ngữ văn (https://baigiaihay.com/ngu-van) Vật lý (https://baigiaihay.com/vat-ly)
  9. Hóa học (https://baigiaihay.com/hoa-hoc) Địa lý (https://baigiaihay.com/dia-ly) Lịch sử (https://baigiaihay.com/lich-su) Sinh học (https://baigiaihay.com/sinh-hoc)
  10. Tiếng Anh (https://baigiaihay.com/tieng-anh)
  11. Giới thiệu (https://baigiaihay.com/gioi-thieu) Điều khoản (https://baigiaihay.com/dieu-khoan) Liên hệ (https://baigiaihay.com/lien-he)
  12. chết” để bày tỏ sự kinh hãi và cũng là đế khu biệt hắn với nhũng người dân lương thiện trong cái làng này. Sự lưu manh của Chí thể hiện cụ thế ngay trong nhừng hành động thường nhật. Mua rượu không được hắn đốt quán, hắn lấy mảnh chai rạch mặt ăn vạ kêu làng… Hắn càng ác và đáng sợ hon khi rơi vào tay bá Kiến rồi trở thành công cụ đắc lực cho hắn. Chỉ cần bá Kiến quăng cho vài hào hắn có thế đâm chém bất cứ ai, làm tất cả những gì người ta sai. Càng ngày Chí càng trượt dài trên còn đường tội lỗi lưu manh.
  13. Ở đây, với đặc điểm này của Chí Phèo, Nam Cao đã có một phát hiện mới trong đời sống người nông Việt Nam trước Cách mạng. Neu chỉ dừng lại ở việc miêu tả đòi sống khốn cùng, quẫn bách, nỗi cực nhục bọt bèo của người nông dân thì đã có Tắt đèn, đã có Bước đường cùng,… Nhưng cái mới của Nam Cao là đã chỉ ra con đường bị lưu manh hóa về bản chất của người nông dân. Họ vốn chất phác, thật thà, lương thiện và đầy tự trọng. Có những người cả cuộc đời không ra khỏi lũy tre làng thì làm sao có thể hại làng hại nước? Song nhà văn bằng ngòi bút sắc sảo, tỉnh táo đã vạch ra thủ phạm của tội ác đứng sau mỗi con quỷ lương tâm của người nông dân. Đó là những thủ đoạn đê tiện của bọn cường hào địa phương kết hợp với chào hà khắc, tàn bạo của chính quyền thực dân. Chính chúng đã tẩy não, đã nhào nặn lại và rồi bôi bẩn những tâm hồn vốn rất mong manh, lương thiện.
  14. Sông, cái tốt đẹp thuộc về bản chất xưa kia ở Chí Phèo như một tiềm thức sâu xa, nó giống như mặt trời có thế bị che mờ nhưng sẽ không bao giờ nguội tắt. Sau giấc ngủ dài mê man, nó cựa quậy, động đậy đòi tỉnh giấc. Nó thúc giục Chí Phèo trở thành người lương thiện.
  15. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã mở ra một bước ngoặt lớn lao trong cuộc đời Chí Phèo. Thị Nở chẳng khác nào ánh trăng mát lành của đêm ấy. Tình thương của Thị Nở chang khác nào dòng sông lấp lánh dưới ánh trăng gợi biết bao tình. Điều đó đã thức dậy cái bản chất lương thiện trong Chí làm nó sống lại và thực sự sống lại trong kiếp sống con người. Tình thương quả là một thứ biệt dược, nó có thế khôi phục, chữa lành cả những vết thương bị nhiễm trùng nặng nhất. Đoạn văn viết về sự thức tỉnh của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở tràn đầy chất thơ. Thị Nở đã làm sống lại trong Chí sự tụ’ ý thức về mình. Chí Phèo sống lại với mong ước “một gia đình nhỏ”, “chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải quanh năm, hai đứa bỏ vốn nuôi con lọn”. Sau bao nhiêu năm, hôm nay Chí lại nghe “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá” hay “tiếng những người đi chợ về hỏi nhau: Hôm nay vải mấy xu hả dì?” Nhũng âm thanh ấy hôm nào chả có? Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy bởi hôm nay Chí mới bừng tỉnh, mới thiết tha hướng về cuộc sống. Bát cháo hành Thị Nở đem đến làm Chí cảm động “Mắt ươn ưót nước” và “hắn cười thật hiền”. Rồi hắn muốn hướng về tương lai, một tương lai bình dị: mái ấm gia đình. Nước mắt, lại là nước mắt đàn ông, Nam Cao từng gọi đó là “lăng kính biến hình của vũ trụ”. Ta có cảm giác giọt nước mắt kia, nụ cười thật hiền trên môi Chí kia đã cuốn đi, đã xua tan quá khứ tối tăm, u ám của hắn. Có lẽ chính giọt nước mất và nụ cười ấy của Chí Phèo Thị Nở đã có khi thầm nghĩ: “Có lúc hắn hiền như đất”. Rồi hắn nói với Thị Nở: “Cứ thế này mãi thì thích nhỉ… hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”. Hắn khát khao muốn trở về thế giói người lương thiện: “Trời ơi hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao, Thị Nở sẽ mở đường cho hắn".
  16. Chính những trang văn trên đã làm sáng bừng cho câu chuyện và sáng bừng lên quãng đòi trôi nổi, tăm tối của Chí Phèo. Chưa khi nào từng cử chỉ, hành động, câu nói của anh khiến ta cảm động như thế. Chúng thể hiện một điều rằng: lần đầu tiên trong đời Chí Phèo gặp được lí tưởng, mục đích sống của đời mình. Nó nằm ở nơi người đàn xấu xí cả xã hội chê bai, xa lánh. Ước mơ giản dị, mong manh của hắn có thế làm bất kì ai cũng phải giật mình nhìn lại những gì mình đang có đế nâng niu và thấy trân trọng nó hơn.
  17. Nhưng bi kịch đời Chí chưa dừng lại ở đó, Thị Nở đã tù’ chối “lời cầu hôn” của hắn bởi bà cô Thị không cho phép cháu bà lấy một thằng “chỉ có độc một cái nghề rạch mặt ăn vạ”. Ta không trách bà cô Thị Nở, đó cũng là cách nhìn của những người trong xã hội đối với Chí Phèo. Tất cả đã coi hắn là con quỉ dữ không ai còn tin hắn, hắn đã bị cả xã hội cự tuyệt. Chí Phèo “ôm mặt khóc rưng rức”. Hắn rơi vào bi kịch tuyệt vọng muốn làm người mà không ai công nhận. Thế là hắn tìm đến rượu “hắn càng uống càng tỉnh” hắn cứ uống cho đến lúc say mềm lại vác dao vừa đi vừa chơi. Hắn giao tiếp với đời bằng tiếng chửi, còn đời trả lời hắn bằng tiếng chó sủa inh ỏi làng nước. Vậy là đã rõ, đời hắn đã đi vào hồi kết, kiếp hắn cũng chỉ là kiếp chó mà thôi. Mồm thì chửi cô cháu nhà Thị Nở nhưng chân thì đưa hắn đến nhà bá Kiến. Đoạn văn được Nam Cao mô tả vô cùng tinh tế và họp lý. Lúc này, Chí Phèo vừa tỉnh lại vừa say, say để lẩm bẩm giết chết “con khọm già” nhà Thị Nở, tỉnh đế đến nhà bá Kiến đi theo thói quen của tiềm thức sâu xa như một tất yếu. Đen nhà bá Kiến Chí Phèo không xin tiền mà đòi “làm người lương thiện”. Rõ ràng, lúc này hắn đã thấm thìa tình trạng tuyệt vọng vô phương cứu chữa của đời mình. Hắn hét lên: “Ai cho tao lương thiện?”. Câu hỏi của Chí Phèo cũng là câu hỏi của thời đại. Chang ai trả lời hắn bởi đó là “Một câu hỏi lớn không lời đáp” đớn đau đến vô cùng. Câu hỏi làm người đọc như lên một niềm cảm thương sâu sắc đối với những kiếp người bất hạnh không biết đi đâu về đâu trong cái xã hội ngục tù tăm tối ấy. Tuyệt vọng, Chí lao vào đâm chết bá Kiến và tự kết thúc cuộc đời mình.
  18. Để Chí Phèo chết Nam Cao đã thế hiện được nhiều ý tưởng sâu xa góp phần tạo nên giá trị hiện thực của tác phẩm. Chí Phèo chết đã trở thành một bản án tố cáo xã hội đương thời, một xã hội phi nhân nghĩa đã tước bỏ quyền sống quyền làm người của những người dân lương thiện. Chí chết
  19. cũng có nghĩa là anh ấy không chịu quay lại con đường lưu manh, không chịu sống kiếp sống con vật chuyên làm kẻ ác. Anh ấy thà chết chứ không chịu từ bỏ khát vọng hoàn lương. Đó là sự cảm thông và cũng là niềm tin của Nam Cao vào bản chất tốt đẹp của con người.
  20. Khi miêu tả bi kịch trong số phận của Chí Phèo, Nam Cao đã đi sâu giải thích những nguyên nhân tạo nên một mạch của bi kịch ấy. Trong đó có nguyên nhân khách quan, xã hội nửa thực dân nửa phong kiến đã đấy con người vào vòng sa ngã. Cũng có nguyên nhân chủ quan bởi bản thân nhũng người nông dân cùng cảnh ngộ lại quay lung vào nhau, phủ nhận nhau, nhìn nhau bằng con mắt đầy định kiến, tiêu biếu là bà cô Thị Nở. Bị xua đuối, đè nén, những người như Chí đến lúc này đã quay lại chống trả (dẫu sự chống trả vô cùng tiêu cực, nhưng họ còn biết làm gì hon?) bằng con đường lưu manh. Hon nữa, Nam Cao còn nhắc đến Năm Thọ, Binh Chức với tư cách là những “vị tiền bối”, họ hàng gần xa với Chí Phèo. Ket thúc tác phẩm, Nam Cao để Thị Nở nhìn nhanh xuống cái bụng và thấp thoáng hình ảnh “cái lò gạch cũ” hiện ra vắng người qua lại. Rất có thể một Chí Phèo con sẽ ra đời để nối nghiệp bố. Hình tượng Chí Phèo được Nam Cao khắc hoạ thành công và khái quát thành quy luật bản chất của xã hội. Vậy muốn chấm dứt bi kịch của Chí Phèo cần phải tiêu diệt xã hội ấy đi. Đây chính là chiều sâu trong ngòi bút Nam Cao trong miêu tả hiện thực xã hội.
  21. Hình tượmg nhân vật Chí Phèo đế lại trong lòng người đọc nhiều niềm xúc động và lòng cảm thông sâu sắc đối với nhũng kiếp người tàn tạ trước Cách mạng tháng Tám. Cùng với những chị Dậu, anh Pha, lão Hạc,… hình tượng nhân vật Chí Phèo khẳng định tính tất yếu phải có một cuộc cách mạng dân tộc và cách mạng giai cấp đế đòi lại quyền sống cho người dân Việt Nam khi đó. Cho đến ngày nay, những nhân vật văn học ấy vẫn là những lời nhắc nhở, cảnh tỉnh chúng ta phải biết yêu hon, trân trọng hon hạnh phúc mình đang có và ra sức cống hiến xây dựng cuộc đời tươi đẹp này.
  22. Cảm nhận của anh chị về hình tượng nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao – Bài làm 2
  23. Cùng với các tác phẩm hiện thực viết về người nông dân bị áp bức bóc lột như Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tất Tố thì Chí Phèo của Nam Cao cũng là một truyện ngắn rất đặc sắc. Viết tác phẩm này, nhà văn đã “khơi được những nguồn chưa ai khơi và đang tạo những gì chưa có ” ở một đề tài quen thuộc. Ông đã phát hiện ra những nỗi đau khổ không gì so sánh được của người nông dân trong xã hội cũ là: vì bị áp bức, bóc lột vì nghèo đói và bế tắc, cùng đường, người nông dân có thể bị hủy hoại từ phần hồn đến phần xác, từ nhân tính đến nhân hình.
  24. Phân tích tính cách của Chí Phèo, nhân vật chính của tác phẩm cùng tên, không những chúng ta thấy rõ những điều vừa nói mà còn bắt gặp một cái nhìn mới mẻ, độc đáo có chiều sâu đầy tính nhân đạo của nhà văn về người nông dân trước cách mạng.
  25. Nói đến Chí Phèo là nói đến một thằng “cùng hơn cả dân cùng” điển hình cho những nỗi khốn khổ, tủi nhục nhất của người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến. Chí vốn là một đứa con hoang may nhờ chút tình thương của xã hội mới có thể tồn tại mà trưởng thành. Mới đẻ ra, Chí đã bị vứt đi bên một cái lò gạch cũ bỏ không và sau đó đã trở thành một món hàng mua bán. Từ thuở nhỏ “bơ vơ hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ ” đến năm hai mươi tuổi, Chí là một anh thanh niên khỏe mạnh làm canh điền cho Bá Kiến. Chí khi ấy cũng “ao ước có như gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải, chung lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm ” nghĩa là chỉ mơ ước một cuộc sống hạnh phúc nhỏ nhoi, bình dị bằng chính sức lao động của mình. Lúc này, tuy còn trẻ trung nhưng hắn cũng có lòng tự trọng. Khi bị bà Ba “quỷ quái ” nhà cụ Bá gọi lên bóp chân, hắn “chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì”. Đúng là hắn biết phân biệt được tình yêu chân chính và thói dâm dục xấu xa. Nhưng rồi bản chất lương thiện trong sáng này của hắn đã bị xã hội đương thời ra sức huỷ diệt.
  26. Bỗng nhiên, chỉ vì ghen tuông vu vơ. Bá Kiến cho giải Chí lên huyện đi ở tù. Sau bảy tám năm biệt tích, một hôm Chí trở về làng Vũ Đại. Lúc này Chí hoàn toàn thay đổi. Từ tính cách, cử chỉ, hành động đến ngoại hình của hắn “trông đặc như một thằng sàng đá”. “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”. Nhà tù đã cướp đi bộ mặt lương thiện của Chí và biến hắn trở thành một thằng lưu manh đầy tội lỗi. Hãy trông lại ngoại hình của hắn “Hắn mặc quần nái đen, áo tây vàng, ngực áo phanh ra để lộ những hình chạm trổ rồng phượng”. Đúng là chân dung một kẻ côn đồ “anh chị” bất chấp mọi thứ, sẩn sàng gây gổ, đâm chém. Từ đó, Chí đi từ những hành động lưu manh vô ý thức chỉ nhằm đáp ứng những cơn thèm rượu và thói ngố ngáo ngang ngược đến chỗ trở thành “đầy tớ tay chân” của Bá Kiến. Chí rất dễ bị bọn thông trị xảo quyệt mua chuộc và lợi dụng. Thật vậy, chỉ cần mây câu nói ngọt xớt, một chuỗi cười Tào Tháo và năm hào chỉ một bữa ăn… Bá Kiến đã thu phục được kẻ thù thành công cụ mù quáng trong tay mình. Công việc của Chí là dập đầu, rạch mặt, đe dọa, ăn vạ, tông tiền. Bọn cường hào lợi dụng hắn để thanh trừng lẫn nhau. Có lần được Bá Kiến sai đi đòi nợ Đội Tảo, xong việc, hắn vênh váo: “Anh hùng làng này có thằng nào bằng ta. Cả cuộc đời hắn từ đó chìm đắm trong một cơn say và hắn đâu biết rằng trong cơn say (hắn) đã phá tan bao nhiêu gia đình, đập vỡ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện”.
  27. Bởi vậy, trong con mắt của mọi người làng Vũ Đại, Chí Phèo đúng là “một con quỷ dữ”. “Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi lần hắn đi qua”. Khi Chí Phèo ngất ngưởng trên đường say, hắn chửi bới, la làng, mọi người đều “mặc thây cha nó ” “không ai cần động dạng”. Và Chí Phèo vẫn
  28. chỉ có một mình “chửi rồi lại nghe”, không ai thèm lên tiếng. “Đáp lại hắn, chỉ có lũ chó cắn xao lên trong xóm”. Như vậy, đúng là Chí đã mất hết cả nhân hình lẫn nhân tính, bị khai trừ ra khỏi xã hội loài người.
  29. Vạch ra một cách lô gích quá trình lưu manh hóa của Chí Phèo, Nam Cao đã mạnh mẽ tố cáo tội ác của bọn thực dân phong kiến đã xô đẩy người nông dân vào bế tắc, không lối thoát.
  30. Nhưng giá trị nổi bật nhát của tác phẩm này là ở chỗ: “khi miêu tả người nông dân bị lưu manh hóa, Nam Cao không hề bôi nhọ nông dân mà trái lại đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định nhân phẩm của họ, ngay trong khi họ bị xã hội cướp mất tất cả nhân hình, nhân tính” (Từ điển Văn học tập I). Nhà văn đã rọi sáng của tình thương yêu vào tận đáy tâm hồn đen tối của “con quỷ dữ làng Vũ Đại”. Trong một đêm kia, hắn gặp Thị Nở. Những phẩm chất của người nông dân lao động tiềm tàng sâu trong con người hắn bất chợt được khơi dậy. Không ngờ, sau cái đêm “trăng rắc bụi trên sông và sông gợn biết bao nhiêu vàng” ấy, nếu Chí Phèo cứ “vơ vẩn nghĩ mãi” thì Thị Nở, cô gái ma chê quỷ hờn kia, cũng chẳng yên lòng. Trở về nhà, thị định ngủ nhưng không thây buồn ngủ, nên thị cứ “lăn ra lăn vào”. Tình thương yêu mộc mạc cộng với sự chăm sóc giản dị của thị đã đánh thức lương tri trong Chí. Suốt năm ngày đêm cả hai đều chìm đắm trong men say của tình yêu. Tỉnh ra, Chí chợt bâng khuâng. Sau bao năm, lần đầu tiên Chí phát hiện ra những âm thanh rộn ràng của cuộc sống xung quanh: từ tiếng chim hót vui vẻ, tiếng cười nói lao xao của mấy người đàn bà đi chợ bán vải về, đến tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những âm thanh ấy chính là tiếng gọi nao nức thiết tha của cuộc sống vang lên rộn ràng trong tâm hồn vừa được khơi dậy của Chí. Cái ước mơ bình dị ngày nào “chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải…” bỗng dưng trở lại với Chí. Dưới ánh sáng của tình yêu, Thị Nở bỗng trở thành người đàn bà có duyên, cũng biết “lườm yêu” biết e lệ, thẹn thùng, biết “ngưởng ngượng mà thinh thích” khi nghe hai tiếng “vợ chồng”. Cũng là lần đầu tiên Chí thảng thốt nhận ra “mình đã ở bên kia dốc cuộc đời” hướng về tuổi già sắp tới, hắn run sợ trước cảnh huống “ốm đau, rét mướt, cô độc” đặc biệt là sự cô độc thật là đáng sợ.
  31. Cũng may mà Thị Nở đã mang bát cháo hành tới, nếu không chắc là hắn đã khóc. Giây phút ấy “hắn thấy lòng thành trẻ con. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ôi! Sao mà hắn hiền…” Tình yêu của Thị Nở, phút này đã mở đường cho Chí Phèo trở lại làm người: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao… Thị có thể sống yên Ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được”. Và hắn nói. “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ”. Rõ ràng là phút này nội tâm của Chí đã bừng tỉnh, lương tri của hắn đã trỗi dậy đã thôi thúc tình cảm hắn. Hắn thật sự muốn “thế này” nghĩa là muốn sống như một con người đúng nghĩa.
  32. Chí Phèo hi vọng Thị Nở sẽ là cái cầu nối được hắn trở về với cuộc dời. “Nhưng hỡi ôi! Con đường trở lại làm người của Chí Phèo vừa được hé mở ra thì đã bị đóng sầm lại!” Bà cô của Thị Nở đã đứng ra để ngăn chặn. Cũng như mọi người dân làng Vũ Đại khác bà đã quen coi Chí là một thằng lưu manh, hơn thế nữa là một con quỷ dữ. Rồi cả Thị Nở, người đàn bà hắn đặt trọn lòng hi vọng đó nghe lời bà cô cũng “dướn cái môi vĩ đại mà ném vào hắn bao lời chửi mắng. Như thế, Chí Phèo thật sự rơi vào một bi kịch tinh thần đau đớn. Hắn đã bị xã hội cự tuyệt quyền làm người. Chí Phèo lại uống rượu trong nỗi tuyệt vọng tột cùng. Khốn khổ chưa! Hơi rượu không sặc sụa. Hắn chỉ thoang thoáng thấy hơi cháo hành”. Càng thấm thìa thêm nỗi đau vô hạn của thân phận mình “hắn ôm chặt khóc rưng rức”…
  33. Đau đớn, xót xa, bế tắc Chí Phèo xách dao miệng dọa: “đi giết cả nhà con đì Nở” nhưng bước chân lại đưa Chí tới nhà Bá Kiến đâm chết lão rồi tự sát. Chí đã chết ngay trên ngưỡng cửa cuộc đời khi cánh cửa cuộc đời đóng chặt trước anh, không cho anh trở lại. Không chấp nhận được cuộc sống thú vật trước đó và thấm thìa tội ác của kẻ cướp đi quyền làm người của mình, Chí xách dao đến nhà nó dõng dạc đòi quyền làm người rồi giết chết kẻ thù và kết liễu cuộc đời mình. Câu hỏi cuối cùng của Chí: Ai cho tao làm người lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? là một câu hỏi đầy phẫn uất, đau đớn, day dứt mãi lòng người đọc bao thế hệ !
  34. Chí Phèo đúng là một hiện thân đầy đủ nhất của những nỗi khốn khổ, tủi nhục của những người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến đương thời? bị chà đạp, bị cào xé, bị hủy hoại từ nhân tính đến nhân hình. Bằng nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn xây dựng tính cách nhân vật sinh động và sắc sảo, Nam Cao đã đặt ra và giải quyết tấn bi kịch của người nông dân thời ấy: Bị cự tuyệt quyền làm người. Từ cuộc đời của nhân vật này, nhà văn đã tái hiện sinh động cụ thể và sắc sảo những hiện thực của xã hội đương thời đưa ra lời tố cáo mạnh mẽ sự tàn nhẫn vô nhân của xã hội ấy. Qua nhân vật điển hình xuất sắc Chí Phèo, nhà văn đã lên tiếng bảo vệ cho quyền làm người. Như thế, Nam Cao chẳng những là một nhà văn hiện thực xuất sắc mà là nhà văn có tinh thần nhân đạo cao cả.
  35. Cảm nhận của anh chị về hình tượng nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao – Bài làm 3
  36. Cùng với Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Công Trứ… trong giai đoạn văn học trung đại, Hồ Chí Minh, Tố Hữu… trong giai đoạn văn học hiện đại, Nam Cao là gương mặt quen thuộc, điển hình trên văn đàn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945. Phong cách của Nam Cao không thể lẫn vào đâu được: bình dị, chân thực nhưng thấm đượm tình nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Một trong những mảng đề tài chủ yếu ữong truyện ngắn của Nam Cao là sự tha hóa của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám 1945. Trong số các truyện ngắn đó, phải kể đến Chí Phèo – tấn bi kịch chung cho những người nông dân nghèo bị tha hóa. Đặc biệt trong phần cuối của câu chuyện, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo càng đau đớn xót xa hơn.
  37. Mở đầu trang viết, hình ảnh một Chí Phèo bất hạnh, đơn độc đập vào mắt người đọc “trần truồng” và “xám ngắt” “ữong một cái váy” để bên cạnh lò gạch cũ. Chí không hề biết bi kịch cuộc đời mình bắt đầu từ đâu, không cha, không mẹ, không chốn nương thân rồi sau đó trải qua bao năm cay đắng vất vả. Chí trở thành một chàng thanh niên theo đúng nghĩa. Nhưng ngờ đâu, chính vì là thanh niên nên Chí phải đi tù bởi cái xã hội quái gở. Sau 7, 8 năm biệt tích, Chí trở về làng Vũ Đại với một con người hoàn toàn khác: một con quỉ dữ của làng Vũ Đại. Vậy là cái xã hội thực dân nửa phong kiến đó là cha mẹ đẻ ra Chí Phèo, đẻ ra nhân cách tha hóa Chí Phèo. Và sau cái đêm yêu Thị Nở, Chí Phèo đã cay đắng nhận ra bi kịch cuộc đời mình. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã lóe sáng như một tia chớp trong chuỗi ngày tăm tối đằng đấng của Chí Phèo. Bằng sự chăm sóc ân cần chu đáo và tình yêu thương mộc mạc giản dị, đã khơi dậy bản chất lương thiện đã bị đánh mất ữong con người của Chí.
  38. Lần đầu tiên sau nhiều năm, Chí nhận ra những âm thanh quen thuộc của cuộc sống hàng ngày: tiếng chim hót vui vẻ, tiếng người đi chợ cười nói, tiếng anh thuyền chèo gõ mái chèo đuổi cá… Những âm thanh quá đỗi quen thuộc và gần gũi với con người lại hết sức lạ với Chí. Nhưng dù thế nào đi nữa Chí Phèo cũng là người lao động cùng khổ với bản tính chân chất, thật thà nên với những động tác giản đơn của cuộc sông thường nhật như vậy, linh hồn quỷ dữ trong con người Chí biến mất mà thay vào đó là vẻ mặt và nụ cười thật hiền. Hắn nhớ lại những ngày xa xưa, những ngày mà hắn đã từng mơ ước có được “một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vỢ dệt vải”. Càng hồi tưởng càng buồn, buồn đến não ruột. Nếu Thị Nở không mang bát cháo sang thì có lẽ “nó khóc mất”. Có lẽ đây là lần đầu tiên Chí được nếm mùi cháo hành thơm ngon và cũng là lần đầu tiên Chí được chăm sóc bởi bàn tay người đàn bà. Bát cháo nóng mới ngon làm sao. Trước đây, muốn được ăn thì phải dọa, phải cướp, phải rạch mặt ăn vạ… Càng nghĩ Chí càng thấy cay đắng. Nhưng giờ đây, vị thơm của hành và tình người tha thiết, nhân hậu đã hoàn toàn dành cho Chí. Chí cảm động biết bao. Đây là hương vị của cháo hành hay là vị ngọt của một tình yêu chân thành mà Chí hằng mơ ước? Hạnh phúc thật giản dị mà thấm thìa nhường nào. Lần đầu tiên “mắt Chí ươn ướt” và cười thật hiền. Chính lúc này đây. Chí Phèo đã tỉnh, tỉnh sau bao cơn say và đã thực sự là một con người. Anh “thèm lương thiện và muốn làm hòa với mọi người biết bao” . Dường như Chí đã thực sự hoảng sợ cho quá khứ của mình khi mà Chí biết đã hoàn toàn bị xã hội dứt khoát cự tuyệt, không nhìn nhận là một con người. Quay về với thực tại, với một vẻ mặt rất phong tình, hắn bảo Thị Nở “hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui”. Thật tội nghiệp! Qua câu nói đó đủ thây cái khát khao muốn được làm người bình thường của Chí. Có nghe hắn chửi, có nhìn hắn rạch mặt ăn vạ, có mục kích được cái cảnh hắn vác dao đâm thuê cho người khác… thì chúng ta mới xúc động thực sự trước cái khát khao hết sức bình dị ấy. Lòng yêu thương, cái tình người cảm động đã thức dậy trong con người của Chí. Phần sâu kín nhất của tâm hồn và cái bản chất đẹp đẽ nhất của người nông dân đã bị vùi dập bấy lâu nay lại bừng sáng.
  39. Tình yêu đã thức tỉnh được con người mà trước nay xã hội chối bỏ. Tình yêu đã nhẹ nhàng hé mở cho anh con đường trở lại làm người. Anh lo sợ, hồi hộp… Đây chính là cái nhìn sâu sắc với tấm lòng xót thương đầy tình người của Nam Cao đối với những con người nghèo khổ, lương thiện bị xã hội xô đẩy vào con đường lưu manh tội lỗi. Nhưng khốn nạn thay cho những kẻ khó, hạnh phúc chưa được bao lâu thì Chí bị Thị Nở phụ bạc. Tuy nhiên người đàn bà tội nghiệp kia đâu có tội gì mà chỉ vì hoàn cảnh của Thị. Thị nghĩ bụng “hãy dừng yêu để hỏi cô Thị đã”. Vậy là, cánh cửa duy nhất đi vào thế giới lương thiện chỉ vừa hé mở đã bị đóng sầm lại. Bà cô Thị Nở mặc sức đay nghiến, chửi bới đôi trai gái khốn khổ. Bà thấy nhục nhã và “gào lên như một con ma dại”. Bà cô Thị Nở đã đang tâm dập tắt ngọn lửa tình yêu vừa chớm sáng giữa Chí Phèo – Thị Nở một cách cay nghiệt. Mà xét cho cùng thì cũng đúng thôi, đã từ lâu rồi, cả cái làng Vũ Đại này có ai xem Chí là người đâu. Chí chỉ là
  40. một thằng chuyên “rạch mặt ăn vạ” thì làm sao bà cô Thị Nở cho phép cháu mình lấy Chí. Chí thật sự rơi vào một bi kịch tinh thần, đau đớn, quằn quại. Chí đang chuẩn bị tinh thần bước vào căn nhà lương thiện thì chính xã hội vạn ác đã vô tình hay cố ý đẩy Chí ra xa. Chí càng với thì nó càng xa thêm, cứ như vậy cho đến khi nó vụt hẳn ra khỏi tầm tay của Chí. Chí cảm thây hết sức hụt hẫng rồi quyết định vác dao đến nhà bà cô Thị Nở để “đâm chết cái con khọm già nhà nó”. Hắn lại uống, nhưng càng uống càng tỉnh, tỉnh để thấm thìa hết nỗi cay đắng của cuộc đời mình và quan trọng hơn, tỉnh để nhận ra kẻ đã làm tha hóa nhân cách, hủy hoại cuộc đời mình.
  41. Vậy thì lần thứ ba Chí đến gặp Bá Kiến không phải đến để xin tiền như mọi khi mà đến để đòi lương thiện, đòi quyền làm một con người đúng nghĩa. Đau đớn, Chí hét lên: “… Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được hết những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không!…”. Đây chính là những lời vạch mặt Bá Kiến hết sức đanh thép, là bản cáo trạng đầy đủ nhất về tội lỗi của tên cường hào xảo quyệt Bá Kiến. Tội ác của hắn không gì thâm độc hơn là hủy hoại nhân cách của một con người, khiến Chí là một con người nhưng sống kiếp sống của thú vật. “Nó phải chết” là bản án dành cho nó, vậy là Chí vung dao giết Bá Kiến. Lúc này đây, ý thức về nhân phẩm đã trỗi dậy trong anh – dẫu quá muộn màng và Chí biết rằng, tội lỗi đã hằn sâu trên khuôn mặt, anh không thể sống lưu manh, sống như thú vật được nữa, nên một lần nữa, lưỡi dao oan nghiệt đã kết thúc một kiếp người. Chí đã chết bi thảm trong đau đớn cả tinh thần lẫn thể xác, chết trong tiếng kêu uất hận đầy đau thương, nhưng cho dù đã chết đi. Chí vẫn luôn thắp sáng ngọn lửa khao khát được làm người lương thiện của một người nông dân bị tha hóa.
  42. Những câu hỏi cuối cùng của Chí là tiếng kêu đau thương tuyệt vọng của cả một kiếp người đau khổ. Những câu hỏi sẽ mãi mãi làm day dứt lòng người đọc. Qua đó đủ thấy được toàn cảnh bức tranh hiện thực trong xã hội cũ – những con người lương thiện bị cái xã hội tàn bạo, vô nhân đạo vùi dập nhân tính. Chí Phèo không phải là hiện tượng ở một con người mà là hiện tượng lưu manh hóa của thanh niên ở nông thôn Việt Nam ưong xã hội nửa thực dân nửa phong kiến. Câu chuyện chứa chan tình cảm nhân đạo, mang tính nhân văn sâu sắc qua nghệ thuật viết truyện hết sức độc đáo, xứng đáng là một tác phẩm có thể làm mờ hết các tác phẩm truyện ngắn khác cùng thời, đưa Nam Cao trở thành bậc thầy viết truyện ngắn ưong các nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn 1930 – 1945.
  43. Cảm nhận của anh chị về hình tượng nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao – Bài làm 4
  44. Khi nhận định về các tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Hoành Khung cho rằng: “Trong mảnh sáng tác về nông dân của Nam Cao, người đọc thường gặp những nhân vật xấu xí, thô lỗ cục cằn và những chuyện nhục nhã của họ. Chính vì thế mà một số người tỏ ra hoài nghi giá trị hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nam Cao, có biết đâu rằng, chính với đám nhân vật “có vấn để” đó mà cái nhìn hiện thực và quan điểm nhân đạo của nhà văn mới thể hiện rõ, đầy đủ nhất”. Và nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao là một nhân vật “có vấn đề” như thế, nhưng chính những lời văn mà tác giả viết về nhân vật này và những bi kịch mà y phải chịu đựng đã thể hiện được giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm mà Nam Cao muốn gửi gắm qua nhân vật này.
  45. Chí Phèo có một tuổi thơ thật bất hạnh: Ngay từ khi chào đời, Chí Phèo đã là một đứa con hoang, bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ và không biết cha mẹ mình là ai. Chí lớn lên nhờ sự đùm bọc, cưu mang của dân làng. Lớn lên Chí đi ở hết nhà này đến nhà nọ. Cứ như thế, Chí lớn lên bình yên giữa những người dân nghèo khổ nhưng hiền lành. Chí cũng có ước mơ riêng của mình, đó là có một gia đình nho nhỏ “chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải”. Đến năm hai mươi tuổi, Chí trở thành một chàng trai có vẻ đẹp toàn vẹn từ ngoại hình mạnh khỏe cho đến nội tâm hiền lành. Nhưng rồi Chí đi làm cho nhà Bá Kiến và cũng chỉ vì chuyện ghen tuông vớ vẩn Chí bị đẩy vào tù, sau bảy, tám năm biệt tích trở về làng giờ đây Chí Phèo đã hoàn toàn thay đổi từ ngoại hình cho đến tính cách. Ngoại hình của Chí thật đáng sợ: cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết. Ngoại hình ấy ẩn chứa một tính cách đã hoàn toàn thay đổi, không còn tính cách “lành như đất” nữa mà giờ đây hắn chuyên đi đập đầu, rạch mặt ăn vạ, hắn lấy rượu để bầu bạn với mình và rồi trong cơn say hắn đến nhà Bá Kiến để trả thù nhưng kết quả của cả hai lần là hắn đã bị Bá Kiến “ru ngủ” bằng rượu, thịt và tiền. Và rồi từ đó, Chí rơi vào trạng thái mất phương hướng, không biết ai là kẻ thù của cuộc đời mình và lại tiếp tiếp tục rơi vào cái bẫy mà Bá Kiến đã giăng sẵn, hắn vào tù vì Bá Kiến và rồi khi ra tù lại tiếp tục biến mình thành tay sai cho chính kẻ thù của mình, còn gì nhục nhã hơn là điều đó.
  46. Cứ thế, cuộc đời hắn trượt dài trong những bi kịch, hắn không làm gì ngoài việc rạch mặt, ăn vạ để đòi tiền, để đâm chém những ai không cùng phe cánh với cụ Bá. Cuộc đời hắn chìm trong cơn say, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say và đánh nhau trong cơn say, “hắn đã phá tan bao nhiêu gia đình, đập vỡ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện”. Cứ như thế đời hắn trượt dài, nhìn vào mặt hắn người ta không biết hắn bao nhiêu tuổi. Cuộc đời hắn đã xem như là bỏ đi, nhân hình bị hủy hoại, nhân tính bị xói mòn. Cả làng Vũ Đại đều tránh mặt hắn mỗi lần hắn đi qua. Ngay cả bản thân hắn cũng quên sự có mặt của hắn ở trên đời.
  47. Nhưng rồi người nông dân bị lưu manh hóa ấy cuối cùng cũng đã thức tỉnh. Trong tâm hồn tưởng chừng như chai đá ấy của Chí vẫn còn le lói một ánh sáng của lương tâm, lương thiện chỉ cần có cơ hội thôi là sẽ bừng sáng. Và Nam Cao đã cho Chí một cơ hội để ánh sáng ấy có dịp bừng lên, đó là cho Chí được gặp gỡ với Thị Nở. Chính cuộc gặp gỡ ấy, sự chăm sóc ân cần của Thị cùng bát cháo
  48. hành nóng hổi nghi ngút khói đã làm sống dậy bản chất lương thiện của Chí. Được Thị Nở chăm sóc, Chí Phèo rất ngạc nhiên vì xưa nay nào hắn có thấy ai tự cho ai cái gì, hắn phải dọa nạt hay cướp giật mới có. Lần đầu tiên khi tỉnh giấc, hắn bâng khuâng nghe tiếng chim hót, tiếng cười nói của những người đi chợ và cùng với đó là khát vọng được sống một cuộc sống khác, được hòa nhập cùng mọi người, họ sẽ nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện. Hắn tự đặt ra câu hỏi cho mình: hắn có thể làm bạn được sao lại chỉ gây thù? Thị Nở chính là người mà Chí đặt niềm tin vào, Chí tin Thị Nở sẽ là chiếc cầu nối giúp Chí trở về với cuộc sống đó.
  49. Nhưng rồi, khát khao sống một cuộc sống lương thiện của hắn vừa mới được nhen nhóm thì đã bị dập tắt. Chiếc cầu nối ấy đã bỏ hắn mà đi chỉ vì lời nói của bà cô: “đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao mà lại phải lấy một thằng không cha, không mẹ chỉ biết rạch mặt ăn vạ”, bỏ lại Chí với nỗi đau khổ đến tột cùng, hắn đau xót nhận ra rằng sẽ chẳng còn chiếc cầu nào mang hắn về với cuộc sống của những người lương thiện nữa. Những lời lẽ cuối cùng đã bộc lộ tất cả bi kịch nội tâm của Chí: “Tao muốn làm người lương thiện (…). Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không!”.
  50. Và cuối cùng, bi kịch đã biến thành thảm kịch. Tột đỉnh của sự khổ đau đã biến thành tột đỉnh của sự căm thù, uất hận. Chí thấy kẻ thù trước mắt cướp đi tình yêu của hắn chính là bà cô Thị Nở nhưng trong sâu thẳm tâm hồn có lẽ hắn vẫn ý thức được ai mới chính là kẻ thù gây nên một chuỗi dài bi kịch của cuộc đời mình. Hắn xách dao đến nhà bà cô Thị Nở nhưng lại đi thẳng đến nhà Bá Kiến, Chí Phèo đã đâm chết Bá Kiến rồi tự kết liễu cuộc đời mình. Trong sự bế tắc đến tột cùng, Chí đã tự tìm ra lối thoát cho riêng mình, đó là cái chết, chết để kết thúc tất cả bi kịch của cuộc đời Chí.
  51. Nhân vật Chí Phèo là nhân vật tiêu biểu cho số phận của người nông dân trong xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Nam Cao đã thể hiện tấm lòng yêu thương, trân trọng của mình đối với những người có số phận bất hạnh. Ở sâu thẳm trong tâm hồn họ chính là sự khát khao hạnh phúc, được yêu thương và sống một cuộc sống tốt đẹp hơn.
  52. Cảm nhận của anh chị về hình tượng nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao – Bài làm 5
  53. Giữa lúc dòng văn học hiện thực phê phán (1930-1945) tưởng như chấm dứt thời kỳ vàng son của mình thì Nam Cao xuất hiện như một ngôi sao lạ trên bầu trời đầy sao. Với tác phẩm “Chí Phèo” (1940), Nam Cao đã đóng góp cho dòng văn học hiện thực một điển hình nông dân mới lạ, sâu sắc, độc đáo với tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo.
  54. Chí Phèo ra đời thật là thê thảm: “Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cạnh cái lò gạch bỏ không, anh ta rước lấy và đem cho người đàn bà goá mù.Người đàn bà goá mù này bán hắn cho bác phó không con và khi bác phó cối chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở nhà nọ.Thân phận của đứa con hoang thật là bi thảm.May thay, xã hội cũng còn chút tình thương nên Chí mới có thể tồn tại mà trưởng thành.Nếu ở trong một xã hội bình thường thì Chí vẫn có thể trở thành người lương thiện.Năm 20 tuổi hắn đã là một thanh niên khoẻ mạnh làm canh điền cho Bá Kiến, “hắn ao ước có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải,chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”.Nhưng mơ ước nhỏ nhoi như vậy cũng không thành.
  55. Hắn cũng có lòng tự trọng.Khi bị bà Ba nhà cụ Bá gọi lên bóp chân, bóp đùi gì đó thì”hắn chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì”.Nhưng bản chất lương thiện trong sáng ấy của Chí đã bị xã hội huỷ diệt.
  56. Bá Kiến ghen với anh canh điền được bà Ba quyền thu quyền bổ trong nhà nên đã ngầm đẩy Chí Phèo đi ở tù.Sau bảy,tám năm tù, Chí trở về thành một tên lưu manh côn đồ.Nhà tù đã cướp đi bộ mặt lương thiện của hắn, biến hắn trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết”
  57. Bá Kiến và nhà tù thực dân đã xô đẩy Chí Phèo vào con đường lưu manh tội lỗi.Từ đấy,đối với đời là một cơn say.Những cơn say của hắn tràn từ cơn này đến cơn khác.Hắn ăn trong lúc say,ngủ trong lúc say và thức dật hãy còn say,dập đầu,rạch mặt trong lúc say…để rồi say nữa, say vô tận.Hành vi lưu manh côn đồ của hắn có mấy biểu hiện:Hắn đập đầu, rạch mặt, đe doạ, ăn vạ, tống tiền bọn cường hào mà tiêu biểu là Bá Kiến.
  58. Đối với dân làng, hắn là con quỷ dữ giết người không gớm tay. Dân làng ai cũng sợ hắn. Hắn lại bị bọn cường hào lợi dụng để thanh trừng lẫn nhau. Bá Kiến có lần đã sai Chí đi đòi nợ Đội Tảo. Chí làm được việc, vênh váo ra về “Anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta”.
  59. Với hình tượng Chí Phèo, Nam Cao đã nêu lên một hiện tượng khá phổ biến, có tính quy luật ở nông thôn Việt Nam xưa. Những người lao động lương thiện bị xã hội đẩy vào con đường cùng đã quay lại chống trả bằng con đường lưư manh để tồn tại. Trước Chí Phèo, làng Vũ Đại đã có Năm Thọ rồi Binh Chức. Sau khi Chí Phèo chết, hiện tượng đó chắc gì đã chấm đứt. Biết đâu lại có một Chí Phèo con ra đời trong cái lò gạch cũ?.
  60. Điều chắc chắn là còn bọn cường hào ức hiếp dân lành, không cho họ đựoc sống lương thiện thì họ phải rơi vào con đường lưu manh, giành lấy miếng ăn, tức là bị huỷ diệt nhân tính và bị xã hội cự tuyệt quyền làm người. “Chí Phèo”đã làm nổi bật cái quy luật tàn bạo đó của xã hội cũ.
  61. Nhưng nếu truyện dừng lại ở đó thì Nam Cao không có gì mới hơn các nhà văn hiện thực phê phán đi trước. Nét đặc sắc và độc đáo của Nam Cao là đã rọi ánh sáng vào tâm hồn đen tối ấy để thấy rằng Chí Phèo vẫn còn một chút lương tri. Nhưng rọi bằng cách nào, Nam Cao đã rọi bằng ánh sáng của tình thương, tình yêu, chỉ có những tình cảm ấy mới có thể rọi vào tâm hồn của một con quỷ. Trong một cơn say, dưới đêm trăng ngoài bãi vắng, hắn vừa la làng vừa cưỡng ép Thị Nở, người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn ở cái làng Vũ Đại này. Nhưng điều kì diệu là nếu như lúc đầu Thị Nở chỉ khơi dậy bản năng sinh vật ở người đàn ông say rượu Chí Phèo, thì sau đó sự chăm sóc đầy ân tình và sự yêu thương mộc mạc chân thành của Thị Nở đã làm thức dậy bản chất lương thiện của người nông dân lao động . Sau khi ăn bát cháo của Thị Nở thì Chí tỉnh hẳn. Hắn bâng khuâng tỉnh dậy sau một cơn say rất dài. Lần đầu tiên từ ngày về làng, sáng dậy hắn nghe tiếng chim kêu,hắn nghe rõ tiếng cười nói của người đi chợ, anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng cười nói của những người đàn bà đi chợ về…Những âm thanh bình thường quen thuộc ấy đã trở thành tiếng gọi của sự sống và đã lay động sâu xa tâm hồn Chí.Cuộc gặp gỡ Thị Nở đã loé sáng như một tia chớp trong cuộc đời tối tăm dằng dặc của Chí. Chí bỗng nhận ra tất cả tinhg trạng bi đát cảu số phận mình. Tình yêu thương đã thức tỉnh Chí. Chí bỗng thấy thèm lương thiện, muốn làm hoà với mọi người biết bao. Chí khao khát được mọi người nhận ra anh trở lại vào cái xã hội bằng phẳng của những người lương thiện. Tình yêu của Thị Nở đã mở đường cho Chí Phèo trở lại làm người.
  62. Nhưng tội nghiệp cho Chí Phèo, Chí mà cầu cứu vào Thị Nở để trở lại làm người lương thiện thì chẳng khác nào người sắp chết đuối vớ phải mảng bèo.Thị Nở là một phụ nữ u mê, đần độn. không tự định đoạt được vận mệnh của minh.Đã ở với Chí Phèo năm ngày năm đêm trong túp lều bên bờ sông, mà khi bà cô ngăn cản, thị lập tức chạy sang nhà Chí Phèo: “Thôi! Dừng yêu”. Cuộc đời Chí Phèo bị tường cao bao bọc chỉ còn một ngõ ngách để trở về cuộc sống lương thiện. Bà cô Thị Nở đứng ở đó và ngăn chặn. Chúng ta cũng không trách bà cô Thị Nở. Bà cũng như dân làng Vũ Đại đã quen coi Chí là tên lưu manh,là con quỷ dữ rồi. Hôm nay, linh hồn hắn trở về nhưng không ai nhận ra. Thế là Chí Phèo thật sự rơi vào một bi kịch tinh thần đau đớn. Chí Phèo thật sự đã bị xã hội cự tuyệt. Chí vật vã quằn quại trong cơn đau đớn tuyệt vọng. Hắn lại uống, lại uống, Nhưng càng uống càng tỉnh ra, không nghe mùi rượu mà chỉ nghe mùi cháo hành. Hắn càng thấm thía nỗi đau vô hạn của thân phận mình. Rồi hắn ôm mặt khóc rưng rức. Rồi lại uống say mèm. Hắn ra đi với một con dao ở thắt lưng. hắn lẩm bẩm; “Tao phải đâm chết nó”.Hắn định vào nhà Thị Nở thì lại vào đúng nhà Bá Kiến. Đây là một tình tiết của thiên tài, vì trong tiềm thức, trong vô thức Bá Kiến mới là kẻ thù chính của Chí. vả lại cũng thuộc đường, thuộc ngõ. Bá Kiến đang nằm ngủ trưa. Hắn đang nằm ngủ trưa. Hắn đang bực mình với bà Tư, không biết đi đâu mà lâu quá “Sao bà ấy còn trẻ quá, gần bốn mươi tuổi mà trông cứ phây phây, càng phây phây quá đi nữa! Mà thấy ghét những thằng trai trẻ… Cụ chỉ muốn cho tất cả những thằng trai trẻ ở tù”. Thì chinh lúc đó, con người trai trẻ bị hắn đẩy vào tù năm hai mươi tuổi vung dao xông vào. Chí Phèo dõng dạc: “Tao muốn làm người lương thiện..Không ai cho tao lương thiện”. Hắn vung dao nhào tới. Bá Kiến chết rồi hắn tự sát, khi người ta đến thì hắn “đang giãy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi”. “Chí Phèo đã chết ở ngưỡng cửa trở về cuộc đời đóng chặt trước hắn. Chí đã chết trong niềm đau thương lớn lao và niềm khao khát mãnh liệt là được sống làm người nhưng đã bị cự tuyệt. Câu hỏi cuối cùng của Chí: “Ai cho tao lương thiện” là câu hỏi phẫn uất, đau đớn còn làm day dứt người đọc. Qua hình tượng Chí Phèo, Nam Cao đã đặt ra câu hỏi lớn ấy. Đó là vấn đề có ý nghĩa xã hội, có ý nghĩa triết học, có tầm vóc lớn lao.
  63. Nhân vật Chí Phèo là một điển hình nông dân mới mẻ, độc đáo, sâu sắc mà Nam Cao đã góp vào cho dòng văn học hiện thực. Với nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, với cách phân tích tâm lí sâu sắc, Nam Cao đã đặt ra và giải quyết tấn bi kịch của người nông dân. Bi lkịch bị cự tuyệt quyền làm người. Với nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã hai lần tố cáo xã hôij thực dân phong kiến. Xã hội đó đã cướp đi những gì Chí Phèo có và đã cướp đi những gì Chí Phèo muốn. Và Nam Cao chẳng những là một nhà văn hiện thực sâu sắc mà còn là một nhà văn có tinh thần nhân đạo cao quý.